Wednesday, November 30, 2016

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - MA-RỐC: 10 NĂM NHÌN LẠI


Trao đổi giữa hai nước những năm gần đây có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ma-rốc đạt 101 triệu USD, tăng 24% so với năm 2012 đưa Ma-rốc trở thành một trong 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại châu Phi. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là điện thoại và linh kiện, cà phê, hàng hải sản, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, tàu thuyền các loại, hàng dệt may, sợi, giày dép, lưới đánh cá, hóa chất, hạt tiêu...
Đôi nét về thị trường Ma-rốc
Ma-rốc nằm ở khu vực Tây Bắc châu Phi, phía bắc là Địa Trung Hải, phía đông giáp An-giê-ri, phía nam giáp Tây Sahara và phía tây là Đại Tây Dương. Do nằm giáp eo biển Gibralta là điểm ngắn nhất ngăn cách châu Âu với châu Phi nên Ma-rốc có một vị trí địa-chính trị quan trọng ở khu vực Bắc Phi.
Với diện tích 446.550 km2, Ma-rốc có dân số 32,3 triệu người, thủ đô là Rabat nhưng trung tâm kinh tế lại là thành phố cảng Casasblanca. Ngôn ngữ sử dụng chính ở đây là tiếng A-rập, tiếng Pháp là ngoại ngữ phổ biến, ngoài ra còn có tiếng địa phương Béc be. Về tôn giáo, đạo Hồi là quốc đạo chiếm đến 98,7% dân số. Đơn vị tiền tệ là đồng Đi-ham (DH) (1 USD = 8,865 DH).
Ma-rốc có trữ lượng phốt phát lớn nhất thế giới với 54,5 tỷ tấn (sản xuất khoảng 20 triệu tấn/năm, trong đó xuất khẩu 10 triệu tấn), ngoài ra có sắt, măng gan, chì, thiếc, muối.
Năm 2013, GDP đạt 104,8 tỷ USD, tăng trưởng GDP chỉ đạt 5,1%. GDP bình quân đầu người khoảng 3000 USD/năm.
Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm 15,1%, công nghiệp 31,7% và dịch vụ 53,2%.
Về ngoại thương, năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu của Ma-rốc đạt 16,78 tỷ USD. Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm có phốt phát và phân bón, hàng dệt may, thực phẩm và đồ uống, khoáng sản, thành phần điện tử, bán dẫn, sản phẩm dầu lửa, trái cây có múi, cá. Các bạn hàng chính là Pháp, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Braxin, Mỹ.
Kim ngạch nhập khẩu của Ma-rốc năm 2013 là 38,66 tỷ USD. Mặt hàng nhập khẩu chính gồm dầu thô, hàng sơ chế, trang thiết bị viễn thông,  thực phẩm và đồ uống, hàng tiêu dùng, nhiên liệu, điện. Các bạn hàng chính là Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ, A-rập Xê-út, Trung Quốc, Ý và Nga.
Quan hệ thương mại Việt Nam-Ma-rốc
Việt Nam và Ma-rốc lập quan hệ ngoại giao từ ngày 27/3/1961. Hai nước đã mở Đại sứ quán tại thủ đô của nhau và trao đổi nhiều đoàn cấp cao.  Về phía Việt Nam có đoàn Chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An thăm Ma-rốc năm 2005, Đoàn Thủ tướng Phan Văn Khải năm 2004. Về phía Ma-rốc cũng có các đoàn như Chủ tịch Hạ viện thăm Việt Nam năm 2003, của Thủ tướng Ma-rốc năm 2008.
Hai nước đã thành lập Uỷ ban hỗn hợp liên chính phủ và đã ký nhiều biên bản thoả thuận trong đó có Hiệp định thương mại (2001), Hiệp định về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao, công vụ (2004), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (2008), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư , Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực du lịch (2012)...
Trong lĩnh vực thương mại, thời gian qua, Bộ Công Thương đã quan tâm đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Ma-rốc. Cùng với việc Đại sứ quán được thành lập, Thương vụ Việt Nam tại Ma-rốc cũng chính thức đi vào hoạt động năm 2005.
Nhiều đoàn nghiên cứu chính sách và xúc tiến thương mại đã được tổ chức tại Ma-rốc như đoàn do Thứ trưởng Thương mại Trần Đức Minh dẫn đầu (năm 2006), đoàn của Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang (năm 2008), đoàn của Thứ trưởng Trần Tuấn Anh (2013). Bộ Công Thương cũng tổ chức đoàn tham dự Diễn đàn Kinh doanh châu Á tại Ma-rốc năm 2012. Tháng 11/2013, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh đã có buổi tiếp ông Mohamed Abbou, Bộ trưởng đặc trách ngoại thương của Ma-rốc nhân dịp vào Việt Nam tham dự Diễn đàn Hợp tác kinh tế Việt Nam-Trung Đông-Bắc Phi.
Trong 10 năm qua, trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Ma-rốc đã có bước tăng trưởng nhanh chóng, từ con số nhỏ bé 8,5 triệu USD năm 2004 lên 31,1 triệu USD năm 2009 và 108,6 triệu USD năm 2013. Đáng chú ý là trong cán cân thương mại, Việt Nam luôn xuất siêu với giá trị lớn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 100,9 triệu USD năm 2013, tăng 24% so với năm 2012 và cao gấp 12 lần so với cách đây 10 năm. Kể từ năm 2012, Ma-rốc đã trở thành 01 trong 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại châu Phi.
Bảng 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Ma-rốc (2004-2013)
                                                                                                  Đơn vị: USD
Năm
Tổng kim ngạch
VN xuất khẩu
VN nhập khẩu
2004
8.555.123
8.230.204
324.919
2005
8.793.064
8.147.186
645.878
2006
12.114.452
11.103.240
1.011.212
2007
27.519.617
27.053.216
466.401
2008
33.527.022
30.164.137
3.362.885
2009
31.136.909
28.887.082
2.249.827
2010
31.930.725
28.268.142
3.662.583
2011
45.271.101
40.392.916
4.878.185
2012
85.527.725
81.753.194
3.774.531
2013
108.665.446
100.992.727
7.672.719
                                                      Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Về nhập khẩu của Việt Nam từ Ma-rốc, tuy có mức tăng cao song do xuất phát điểm thấp nên giá trị không đáng kể, chỉ đạt 7,6 triệu USD năm 2013, tăng gấp đôi so với năm 2012 và gấp 23 lần so với năm 2004.
Có được kết quả trên trước tiên phải kể đến việc thành lập và đi vào hoạt động của Cơ quan Thương vụ Việt Nam vào cuối năm 2005 tại thành phố Casablanca, trung tâm kinh tế của Ma-rốc. Với vai trò cầu nối, Thương vụ đã cung cấp những thông tin thị trường, giới thiệu cơ hội kinh doanh, góp phần giúp doanh nghiệp hai nước tìm hiểu, nắm bắt được những tiềm năng hợp tác thương mại và tiếp xúc với các khách hàng.
Thứ hai là bản thân các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp của Việt Nam đã ngày một quan tâm đến thị trường Ma-rốc. Các doanh nghiệp đã tích cực tham gia các đoàn nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại tại Ma-rốc do Bộ Công Thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức. Một số doanh nghiệp tham gia đều đặn các hội chợ, triển lãm quốc tế thường niên như Triển lãm nông nghiệp Meknes, Hội chợ Ramadan...
Thứ ba là cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có sự dịch chuyển theo hướng tích cực: Các mặt hàng nông sản xuất khẩu thô như cà phê, hạt tiêu, cơm dừa đã giảm dần nhường chỗ cho hàng công nghiệp như điện thoại, máy vi tính và linh kiện, sản phẩm dệt may, giày dép. Số lượng mặt hàng xuất khẩu chủ lực ngày càng đa dạng hơn, không chỉ bó hẹp vào một, hai sản phẩm như những năm trước đây.
Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ma-rốc năm 2013
Mặt hàng xuất khẩu
Giá trị (USD)
Điện thoại di động và linh kiện
63,520,171
Cà phê
6,381,031
Hàng hải sản
4,751,560
Hàng hoá khác
4,514,543
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện
3,419,954
Giày dép các loại
2,299,124
Sản phẩm hóa chất
2,218,147
Tàu thuyền các loại
1,983,217
Sản phẩm dệt may
1,763,041
Sợi các loại
1,708,853
Lưới đánh cá
1,300,853
Hạt tiêu
1,300,650
Máy móc thiết bị, dụng cụ & phụ tùng
880,788
Cao su và sản phẩm từ cao su
736,235
Dầu mỡ động thực vật
667,629
Linh kiện phụ tùng xe máy
606,741
Bật lửa
594,459
Túi xách, ví, vali, mũ & ô dù
384,899
Sản phẩm chất dẻo
308,853
Đĩa lưu trữ thông tin thuộc nhóm 8523
308,070
Hàng rau quả
302,340
Máy hút bụi
212,358
Sản phẩm gỗ
177,518
LK ô tô CKD, SKD dưới 12 chỗ ngồi
152,567
Bánh, kẹo & sản phẩm từ ngũ cốc
123,936
Vải
98,185
Dao cạo và lưỡi dao cạo
97,684
Hoa hồi
83,120
Kính xây dựng
39,637
Gạo
24,460
Nguyên phụ liệu dệt may, da & giày
18,714
Thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu
13,387
Tổng
100,992,724
Nguồn: Tổng cục Hải quan VN
Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Ma-rốc năm 2013 đạt 7,6 triệu USD, tăng 100% so với năm 2013 với các sản phẩm chính là hàng hải sản 2,1 triệu USD, máy vi tính 2 triệu USD, sản phẩm dệt may 1,3 triệu USD, phân DAP 1,1 triệu USD…
Mặc dù có sự tăng trưởng mạnh song trao đổi thương mại song phương nhất là kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ma-rốc vẫn còn khiêm tốn chưa tương xứng với tiềm năng hai nước. Ma-rốc là một trong những quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh ở châu Phi, có tình hình chính trị ổn định. Tại thị trường này, thời gian qua cũng không xảy ra các vụ lừa đảo thương mại qua mạng Internet. Hàng hoá của Việt Nam ngày càng được người tiêu dùng địa phương biết đến và đánh giá cao. Ngoài ra, với lợi thế có cơ quan Thương vụ, Đại sứ quán Việt Nam ở nước sở tại, cùng với công tác thông tin, tuyên truyền tích cực của Bộ Công Thương về tiềm năng xuất nhập khẩu của thị trường này, dự báo thời gian tới kim ngạch giữa hai nước có nhiều khả năng nâng cao kim ngạch./.
                                                Hoàng Đức Nhuận


ĐỘNG LỰC KHIẾN NHẬT BẢN THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ VÀO CHÂU PHI

Tại cuộc họp trong khuôn khổ Hội nghị Quốc tế Tokyo về Phát triển châu Phi lần thứ 6 (TICAD6) diễn ra hai ngày (27-28/8) ở Nairobi, Kenya; Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe khẳng định Tokyo cam kết hỗ trợ 30 tỉ USD cho khu vực châu Phi trong 3 năm tới. Số tiền này sẽ dùng hỗ trợ lĩnh vực tư nhân lẫn chính phủ để phát triển hạ tầng, giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Trong đó, 10 tỉ USD được dùng để phát triển cơ sở hạ tầng thông qua hợp tác với Ngân hàng Phát triển châu Phi (ADB). Nhật Bản, một quốc gia không giàu tài nguyên, đã lưu ý đến tiềm năng khai thác tài nguyên thiên nhiên to lớn của châu Phi. Mối quan tâm này được chú trọng hơn nữa sau khi Nhật Bản đóng cửa gần như tất cả các lò phản ứng hạt nhân của mình sau thảm họa Fukushima năm 2011, dẫn tới sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu mỏ và khí đốt. Thủ tướng Abe nói: “Khi kết hợp với lĩnh vực đầu tư tư nhân, tôi hy vọng tổng số tiền sẽ lên đến 30 tỉ USD. Đây là khoản đầu tư đặt niềm tin vào tương lai của châu Phi, một sự đầu tư để Nhật Bản và châu Phi cùng phát triển”. Khoản 30 tỉ cam kết hôm 27/8 là số tiền tách biệt hoàn toàn với số tiền tại hội nghị TICAD 2013, Tokyo cũng cam kết hỗ trợ 32 tỉ USD cho châu Phi trong thời gian 5 năm.  Ông Abe nói rằng 67% trong số đó đã được sử dụng trong các dự án. Cam kết đầu tư lần này củaThủ tướng Abe đã phản ánh một sự chuyển đổi rộng lớn hơn trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản với châu Phi, đó là chuyển từ viện trợ sang thương mại và từ chính phủ tới khu vực tư nhân.

Đối thủ của Nhật Bản trong việc tranh giành ảnh hưởng tại châu Phi là Trung Quốc. Theo thống kê của Tổ chức Thương mại ngoài Nhật Bản cho thấy đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại châu Phi năm 2015 đạt mốc 1,24 tỉ USD, giảm so với 1,5 tỉ USD một năm trước đó. Tokyo đầu tư vào khá nhiều lĩnh vực như đường, sân bay, bến cảng, nhà máy điện... Trong khi đó, Trung Quốc đã đầu tư 2 tỉ USD vào quốc gia Equatorial Guinea, quốc gia có nguồn dầu mỏ dồi dào chỉ trong tháng 4/2015[1].

Thay vì đầu tư tài chính đơn thuần, Nhật Bản có hướng đi khác nhằm vào chất lượng và ngoại giao để thuyết phục các lãnh đạo châu Phi, ông Koichi Sakamoto - giáo sư nghiên cứu phát triển vùng tại Đại học Toyo cho rằng: “Nhật Bản gần như phải “chiến đấu” với Trung Quốc ở thị trường châu Phi. Khi Nhật Bản không thể đối chọi với Trung Quốc về khoản tiền đầu tư, thì họ cần phải nhấn mạnh về mặt chất lượng”[2]. Bằng chứng là chuyến công du châu Phi trong tháng 8 vừa qua của Thủ tướng Abe là chuyến đi thứ 3 của ông tới lục địa này kể từ khi nhận chức vào cuối năm 2012. Trong lịch sử chưa có một vị Thủ tướng Nhật Bản nào tới châu Phi từng đó lần trong một khoảng thời gian ngắn như vậy.

Ông Abe cũng làm sâu sắc thêm sự tương phản giữa Nhật Bản và Trung Quốc rằng: “Nhật Bản có trách nhiệm thúc đẩy giá trị của tự do, giá trị của pháp luật và kinh tế thị trường; không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực; nỗ lực làm cho xã hội thịnh vượng hơn”.

Một thực tế là Nhật Bản sớm nhận thức rõ ràng hơn ảnh hưởng về kinh tế ngày càng lớn của châu Phi và đã có những chính sách mở mang quan hệ với châu lục này. Trên trang mạng “forejgnaffairs.com” ngày 16/9 có đăng tải bài viết của tác giả J.Berkshire Miller, theo tác giả Miller trong nhiều thập kỷ qua, chính sách đối ngoại của Nhật Bản với châu Phi chỉ xoay quanh mục tiêu thể hiện sức mạnh mềm, chủ yếu được thể hiện dưới dạng viện trợ phát triển. Nhưng trong những năm gần đây, áp lực kinh tế trong nước cộng với sự cạnh tranh của các quốc gia khác tại châu Phi buộcTokyo phải cân nhắc lại. Thông điệp của Nhật Bản gửi đến các nước châu Phi rất rõ ràng là, có những con đường đến với sự phát triển bền vững mà không liên quan gì đến Trung Quốc[3]; Tokyo chỉ muốn mang tới châu Phi những sáng kiến đặc biệt để thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân công có tay nghề, y tế và nông nghiệp. Sự giúp đỡ ấy của Nhật Bản đang được các nước châu Phi đón nhận, và đây là một trong những cơ sở quan trọng để hai bên tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác.

Các quốc gia châu Phi đã và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với Nhật Bản, bởi việc cải cách Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc không thể thiếu sự ủng hộ của các nước thuộc châu lục này. Điều đó có thể góp phần hoàn thành giấc mơ dài mà Nhật Bản đang ấp ủ. Đó là trở thành một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Hướng đến mục tiêu này, Nhật Bản đã cải thiện quan hệ với các quốc gia châu Phi. Bộ Ngoại giao Nhật Bản vừa đưa ra kế hoạch cử phái đoàn ngoại giao tại Liên minh châu Phi (AU) và bổ nhiệm một đại sứ tại đây. AU với 50 thành viên là một trong những khối bỏ phiếu quan trọng tại Đại hội đồng Liên hợp quốc[4].

Động lực thúc đẩy mối quan hệ giữa Nhật Bản với châu Phi còn được thể hiện chủ yếu bởi tầm quan trọng của các nước này đối với nền kinh tế Nhật Bản. Có rất nhiều khoáng sản và nguyên liệu thô dùng để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu của Nhật Bản, từ ô tô đến các loại đồ dùng gia đình đều đến từ các quốc gia châu Phi. Bằng việc mở rộng đầu tư và khuyến khích hợp tác liên doanh, Tokyo hy vọng giành được chuỗi cung ứng các nguyên liệu này. Một mục tiêu khác của Nhật Bản là năng lượng vì nhu cầu đặc biệt của nước này đối với các nguồn nhiên liệu nước ngoài do việc cắt giảm sản lượng điện hạt nhân trong nước sau thảm họa năm 2011[5].

Với việc ngày càng có nhiều chính sách đầu tư vào châu Phi, Nhật Bản đã và đang mong muốn tìm kiếm các nguồn năng lượng mới, cũng như tranh thủ sự ủng hộ của châu Phi nhằm góp phần tăng cường vị thế của Tokyo trên trường quốc tế. Còn đối với châu Phi, đây chính là một cơ hội tốt để các nước đang còn nghèo song có nhiều tiềm năng ở nơi đây thu hút được nguồn vốn từ Nhật Bản nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.

Trần Mỹ Hoa, Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á

[1] Japan pledges to invest $30 billion in Africa over next three years

https://www.japantoday.com/category/politics/view/japan-pledges-to-invest-30-billion-in-africa-over-next-three-years

[2] Nhật Bản dùng chất lượng 'đấu' với tiền của Trung Quốc ở châu Phi

http://www.baomoi.com/nhat-ban-dung-chat-luong-dau-voi-tien-cua-trung-quoc-o-chau-phi/c/20174398.epi

[4] Động lực khiến Nhật Bản đẩy mạnh quan hệ với Châu Phi.

Bản dịch của TTXVN, Tin tham khảo thế giới, ngày 06/09/2016. Tr20;21.

[3]; [5] Chính sách “xoay trục” sang châu Phi của Nhật Bản

Bản dịch của TTXVN, Tin tham khảo thế giới, ngày 21/09/2016. Tr19;20.

QUAN HỆ TRUNG QUỐC - CHÂU PHI: CỨU CÁNH CHIẾN LƯỢC CỦA NHAU

(Toquoc)-Châu Phi trở thành thị trường buôn bán và đầu tư qua trọng hàng đầu của Trung Quốc phục vụ tái cơ cấu kinh tế trong nước.

Năm 2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề ra là năm châu Phi với phương châm 4 chữ “Chân, thực, thân, thành”.

Tại Hội nghị thượng đỉnh diễn đàn hợp tác Trung Quốc - châu Phi (FOCAC) tổ chức tại Nam Phi kết thúc ngày 5/12, hai bên xác định năm trụ cột và 10 kế hoạch hợp tác lớn để thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Trung Quốc - châu Phi. Trung Quốc cam kết hỗ trợ 60 tỷ USD cho các quốc gia châu Phi phát triển kinh tế - xã hội. 

Ngày 8/12, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện chính sách đối với châu Phi. Lần công bố đầu tiên là vào năm 2006 sau khi tổ chức Diễn đàn hợp tác Trung Quốc - châu Phi lần thứ nhất tại Bắc Kinh.

Văn kiện lần này đề ra 7 phương hướng và biện pháp thúc đẩy hợp tác toàn diện: (i) Tăng cường tin cậy chính trị, duy trì giao lưu cấp cao mật thiết, tăng cường giao lưu về kinh nghiệm điều hành đất nước, hoàn thiện cơ chế tham vấn và hợp tác. Chính đảng, quân đội, chính quyền địa phương tăng cường giao lưu; (ii) Làm sâu sắc hợp tác trong các vấn đề quốc tế, tăng cường phối hợp trong các cơ chế quốc tế và các vấn đề quốc tế; (iii) Đi sâu hợp tác kinh tế thương mại, hỗ trợ thúc đẩy châu Phi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường hợp tác tài chính tiền tệ, thúc đẩy tiện lợi hóa thương mại và đầu tư, đi sâu hợp tác về năng lượng và nguyên liệu, mở rộng hợp tác kinh tế biển; (iv) Tăng cường hợp tác phát triển, tiếp tục tăng cường viện trợ phát triển: (v) Đi sâu mở rộng giao lưu và hợp tác về văn hóa, thể thao, du lịch, phát thanh truyền hình, giao lưu học thuật và think tank; (vi) Thúc đẩy hòa bình và an ninh châu Phi, làm sâu sắc hợp tác quân sự, ủng hộ châu Phi ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống; (vii) Tăng cường giao lưu hợp tác trong các lĩnh vực lãnh sự, di dân, tư pháp, chấp pháp...

Hai bên thông qua các cơ chế đối thoại bình đẳng như hội nghị cấp bộ trưởng, tham vấn chính trị cấp Ngoại trưởng, cũng như liên hệ với ngoại giao đoàn châu Phi tại Trung Quốc.

Trung Quốc “xoay trục” sang châu Phi

Ông Tập Cận Bình đã thăm châu Phi và dự FOCAC từ ngày 1-5/12/2015. Cả ông Tập Cận Bình và các lãnh đạo châu Phi đều nói về nhau như “những người bạn đáng tin cậy”. Ông Tập Cận Bình mô tả quan hệ của Trung Quốc với Nam Phi như “một người đồng chí và một người anh dem”.

Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của châu Phi với khoảng 222 tỷ USD giá trị hàng hóa và dịch vụ trao đổi trong năm 2014. Với mục tiêu trở thành đối tác chiến lược, Bắc Kinh cam kết sẽ tăng thêm đầu tư của nhà nước để giúp phát triển kinh tế ở châu lục này, phần lớn sẽ được dành cho lĩnh vực năng lượng và giao thông. Theo số liệu của Viện Doanh nghiệp Mỹ, trong hơn một thập kỷ qua đã có 29,97 tỷ USD, chiếm 41% tổng vốn đầu tư của Trung Quốc ở châu Phi, được giành cho các dự án năng lượng.

Ước tính quy mô đầu tư của Trung Quốc lên tới 2.500 dự án ở 51 quốc gia thuộc châu Phi với tổng giá trị khoảng 94 tỷ USD.

Nhiều công ty của Trung Quốc đã giành được các hợp đồng béo bở trong lĩnh vực giao thông trị giá hơn 81,1 tỷ USD trong hơn một thập kỷ qua, chiếm 49% tổng giá trị hợp đồng xây dựng của Trung Quốc ở Lục địa Đen. Nam Phi là quốc gia châu Phi nhận được nhiều đầu tư của Trung Quốc nhất với 9,17 tỷ USD, Cộng hòa Dân chủ Congo đứng thứ hai. Tuy nhiên, các quốc gia kém phát triển hơn như Nigeria và Algeria cũng đã ký kết nhiều hợp đồng xây dựng lớn với các công ty Trung Quốc. Cụ thể, Trung Quốc có các dự án trị giá 24,65 tỷ USD ở Nigeria và 18,69 tỷ USD ở Algeria, trong khi giá trị các dự án trong lĩnh vực này ở Nam Phi chỉ ở mức 380 triệu USD.

Ngoài ra, các quốc gia ở châu Phi cũng đã được hưởng lợi lớn từ nguồn viện trợ nước ngoài của Trung Quốc trong những thập niên gần đây.

Tuy nhiên, Trung Quốc ngày nay đang nỗ lực tìm kiếm những người bạn gần gũi hơn và những liên minh ngoại giao trên vũ đài thế giới nhằm thúc đẩy việc khẳng định là một cường quốc chính với mục tiêu thoát khỏi kinh tế đơn thuần và coi châu Phi là một nguồn cung cấp năng lượng và nguyên liệu thô đáng tin cậy.

Để góp phần ổn định tình hình châu Phi, trong bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc hồi tháng 9 vừa qua, ông Tập Cận Bình đã cam kết cử 8.000 binh sĩ tham gia Phái bộ giữ gìn hòa bình và tài trợ 1 tỷ USD để ủng hộ nhiệm vụ giữ gìn hòa bình ở châu Phi. Việc đóng góp vào lực lượng giữ gìn hòa bình ở châu Phi hay gây quỹ phát triển là những cách thức xây dựng chính sách ảnh hưởng và mở rộng sự thừa nhận là một cường quốc lớn mạnh.

Các hãng tin NHK (Nhật Bản), Tin tức Kinh tế (Đức) bình luận: Việc Trung Quốc đưa ra các sáng kiến mới tại Hội nghị, một mặt nhằm làm sâu sắc vai trò của Trung Quốc trong tiến trình phát triển của châu Phi, mặt khác giúp nâng cao vị trí, vai trò của châu Phi trong trật tự quốc tế. Cho dù có những chỉ trích chính sách của Trung Quốc đối với châu Phi là một dạng “chủ nghĩa thực dân mới”, quan hệ giữa Trung Quốc với lục địa này cũng đã đạt đến điểm mạnh nhất. Ở thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, Trung Quốc đã thành cứu cánh của châu Phi và châu Phi trở thành thị trường quan trọng của nên kinh tế Trung Quốc đang được tái cơ cấu./.

Hoài Nam

TẦM QUAN TRỌNG CHIẾN LƯỢC CỦA IRAN ĐỐI VỚI NGA VÀ TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ hai, ngày 6/2/2012

TTXVN (Ốttaoa 2/2)

Mạng tin “Nghiên cứu toàn cầu” mới đây đăng bài phân tích của ông Mahdi Darius Nazemroaya, nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu về toàn cầu hóa (CRG) tại Montreal (Canada) về liên minh tay ba Á– Âu giữa Iran, Nga và Trung Quốc, tầm quan trọng chiến lược của Iran đối với Nga và Trung Quốc và sự đối đầu giữa các khối quân sự, với nội dung sau:

Bất chấp những lĩnh vực khác biệt và sự thù địch giữa Mátxcơva và Têhêran, các quan hệ giữa hai nước, dựa trên những lợi ích chung, đang phát triển mạnh mẽ. Cả Nga và Iran đều là những nước xuất khẩu năng lượng lớn và đều có những lợi ích sâu sắc tại Nam Cápcadơ. Cả hai nước đều kiên quyết phản đối lá chắn tên lửa của NATO tại châu Âu, với tầm nhìn nhằm ngăn Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) kiểm soát các hành lang năng lượng xung quanh khu vực Lòng chảo Biêtn Caxpi. Các quan hệ song phương của Mátxcơva và Têhêran cũng là một phần của liên minh rộng hơn, có liên quan đến Ácmênia, Tátgikixtan, Bêlarút, Xyri và Vênêxuêla. Nhưng trên hết, cả Nga và Iran cũng đều là hai mục tiêu địa chiến lược chủ chốt của Mỹ.

Liên minh tay ba Á-Âu: Tầm quan trọng chiến lược của Iran đối với Nga và Trung Quốc

Trung Quốc, Liên bang Nga và Iran được đông đảo mọi người coi là các đồng minh và đối tác. Ba nước này đang lập ra một rào cản chiến lược nhằm trực tiếp chống lại chủ nghĩa bành trướng của Mỹ. Liên minh ba nước này là nòng cốt của một liên minh Á-Âu để chống lại sự xâm lấn của Mỹ vào lục địa Á-Âu, cũng như việc thực hiện mục tiêu bá chủ toàn cầu của Oasinhtơn. Trong khi Trung Quốc phải đối đầu với sự xâm lấn của Mỹ tại Đông Á và Thái Bình Dương, thì Nga và Iran phải đối đầu với liên minh do Mỹ lãnh đạo tại Đông Âu và Tây Nam Á. Cả ba nước này đều bị đe dọa tại Trung Á và quan ngại về sự có mặt của Mỹ và NATO tại Ápganixtan.

Iran có thể được mô tả như một trục địa chiến lược. Phương trình địa chính trị tại lục địa Á-Âu đang chủ yếu xoay quanh cấu trúc các liên minh chính trị của Iran. Khả năng Iran có thể trở thành đồng minh của Mỹ sẽ cản trở hoặc thậm chí gây bất ổn cho Nga và Trung Quốc. Việc này cũng gẳn liền với các mối liên hệ sắc tộc-văn hóa, ngôn ngữ, kinh tế, tôn giáo và địa chính trị với khu vực Cápcadơ và Trung Á. Hơn nữa, nếu cấu trúc các liên minh chính trị chuyển sang có lợi cho Mỹ, Iran cũng có thể trở thành “chất dẫn xuất” lớn nhất cho ảnh hưởng và sự bành trướng của Mỹ tại Cápcadơ và Trung Á. Thực tế là Iran đang là cửa ngõ dẫn vào khu vực hiểm yếu dễ bị tấn công của Nga tại Cápcadơ và Trung Á.

Trong một kịch bản như vậy, vị thế hành lang năng lượng của Nga sẽ bị suy yếu nếu Mỹ có thể “mở khóa” tiềm năng của Iran như một hành lang năng lượng chủ chốt cho khu vực lòng chảo Biển Caxpi, ám chỉ đến sự kiểm soát địa chính trị thực tế của Mỹ đối với các tuyến đường ống dẫn dầu của Iran. Trong vấn đề này, một phần thành công của Nga như một tuyến quá cảnh năng lượng là nhờ những nỗ lực của Mỹ nhằm làm suy yếu Iran bằng cách ngăn việc vận chuyển năng lượng qua lãnh thổ Iran.

Nếu Iran “chuyển bên” và gia nhập trường ảnh hưởng của Mỹ, nền kinh tế và an ninh quốc gia của Trung Quốc cũng sẽ bị biến thành con tin. An ninh năng lượng của Trung Quốc sẽ bị đe dọa trực tiếp bởi vì trữ lượng năng lượng của Iran sẽ không còn được đảm bảo và sẽ bị lệ thuộc vào các lợi ích địa chính trị của Mỹ. Thêm vào đó, Trung Á cũng sẽ chuyển hướng quỹ đạo. Vì thế, cả Nga và Trung Quốc đều mong muốn một liên minh chiến lược với Iran như một biện pháp nhằm tự che chắn khỏi sự xâm lấn địa chính trị của Mỹ. “Pháo đài Á-Âu” sẽ bị nguy hiểm nếu thiếu Iran. Đó là lý do tại sao cả Nga lẫn Trung Quốc đều không bao giờ chấp nhận một cuộc chiến tranh chống lại Iran. Nếu Mỹ có thể biến đổi Iran thành một “đồng minh”, thì Nga và Trung Quốc sẽ bị đe đọa.

Nhầm lẫn về sự ủng hộ của Nga và Trung Quốc đối với các lệnh trừng phạt Iran của HĐBA LHQ

Thế giới đã nhầm lẫn rất lớn về sự ủng hộ trước đây của Nga và Trung Quốc đối với các lệnh trừng phạt Iran của HĐBA LHQ. Cho dù Bắc Kinh và Mátxcơva cho phép các lệnh trừng phạt của HĐBA LHQ chống lại các đồng minh Iran của họ được thông qua, họ cũng chỉ làm vậy vì những lý do chiến lược, để giữ cho Iran nằm ngoài qũy đạo của Oasinhtơn. Trên thực tế, Mỹ nên kết nạp Iran làm một vệ tinh hoặc một đối tác cấp thấp hơn là chấp nhận những rủi ro không cần thiết và mạo hiểm một cuộc chiến tổng lực với Iran. Việc Nga và Trung Quốc ủng hộ các lệnh trừng phạt trước đây là để cho phép phát triển mâu thuẫn rộng hơn giữa Têhêran và Oasinhtơn. Khi những căng thẳng Mỹ-Iran tăng lên, các quan hệ của Iran với Nga và Trung Quốc trở nên gần gũi hơn và Iran ngày càng bám chặt vào các mối quan hệ với Bắc Kinh và Mátxcơva.

Tuy nhiên, Nga và Trung Quốc sẽ không bao giờ ủng hộ các biện pháp trừng phạt làm tê liệt hoặc bất kỳ hình thức cấm vận kinh tế nào có thể đe dọa an ninh quốc gia của Iran. Đó là lý do vì sao cả Trung Quốc và Nga đều từ chối sự ép buộc của Mỹ phải tham gia các lệnh trừng phạt đơn phương mới năm 2012 của họ. Nga cũng đã cảnh báo Liên minh châu Âu (EU) đừng làm “con tốt” của Mỹ, bởi vì EU đang làm hại chính mình khi hợp tác cùng các kế hoạch của Mỹ. về vấn đề này, Nga nhận xét rằng các kế hoạch cấm vận dầu mỏ chống Iran của EU là không thực tế và không khả thi Iran cũng đưa ra những cảnh báo tương tự và coi lệnh cấm vận dầu mỏ của EU chỉ là một chiến thuật tâm lý và sẽ thất bại.

Sự hợp tác an ninh và phối hợp chiến lược Nga-Iran

Vào tháng 8/2011, người đứng đầu Hội đồng An ninh quốc gia tối cao Iran, Tổng thư ký Saaed (Said) Jalili, và người đứng đâu Hội đông An ninh quốc gia Liên bang Nga Nikolai Platonovich Patrushev đã gặp nhau tại Têhêran để thảo luận về chương trình năng lượng nguyên tử của Iran, cũng như sự hợp tác song phương. Nga muốn giúp Iran đẩy lùi làn sóng cáo buộc mới của Oasinhtơn nhằm vào Iran. Ngay sau khi ông Patrushev và ê kíp của ông đến Têhêran, Ngoại trưởng Iran Ali Akbar Salehi đã bay tới Mátxcơva. Cả hai ông Jalili và Patrushev đã gặp lại nhau vào tháng 9/2011 nhưng lần này ở Nga. Ông Jalili đã tới Mátxcơva trước và sau đó vượt dãy Ural tới thành phố Yekaterinburg. Hội nghị Yekaterinburg Nga- Iran đã diễn ra bên lề một hội nghị an ninh quốc tế. Hơn nữa, tại hội nghị này họ đã tuyên bố rằng hai tổ chức an ninh cấp cao nhất tại Mátxcơva và Têhêran từ nay sẽ phối hợp bằng cách tổ chức các hội nghị thường xuyên. Hai nước đã ký một nghị định thư tại Yekaterinburg.

Tại hội nghị quan trọng này, cả hai ông Jalili và Patrushev đều gặp đối tác Trung Quốc là Mạnh Kiến Trụ. Kết quả của các cuộc gặp này là một tiến trình tư vấn song phương tương tự giữa các hội đông an ninh quốc gia Nga và Trung Quốc đã được thiết lập. Hơn nữa, các bên cũng thảo luận việc thành lập một hội đồng an ninh siêu quốc gia trong nội bộ Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) để đương đầu với những nguy cơ nhằm chống lại Bắc Kinh, Mátxcơva, Têhêran và các đồng minh Á-Âu khác của họ. Cũng trong tháng 9/2011, Dmitry Rogozin, đặc phái viên của Nga tại NATO, tuyên ,bố ông sẽ thăm Têhêran trong một tương lai gần để thảo luận về dự án lá chắn tên lửa NATO mà cả Mátxcơva và Têhêran đều phản đối.

Những thông tin cho rằng Nga, Iran và Trung Quốc đang có kế hoạch thành lập một lá chắn tên lửa chung đã bắt đầu nổi lên. Rogozin, người đã cảnh báo từ tháng 8/2011 rằng Xyri và Yêmen sẽ bị tấn công như những bàn đạp trong cuộc đối đầu lớn hơn nhằm vào Iran, đã phản ứng bằng cách công khai bác bỏ những tin tức có liên quan đến việc thành lập một dự án lá chắn tên lửa chung Trung Quốc-Nga-Iran.

Vào tháng 10/2011, Nga và Iran đã tuyên bố rằng họ sẽ mở rộng quan hệ trong tất cả các lĩnh vực. Ngay sau đó, vào tháng 11/2011, Iran và Nga đã ký một hiệp định hợp tác chiến lược và quan hệ đối tác giữa các tổ chức an ninh cấp cao nhất, có liên quan đến kinh tế, chính trị, an ninh và tình báo. Hiệp định này là văn kiện được dự đoán từ lâu và được ký tại Mátxcơva. Vào tháng 11/2011, người đứng đầu ủy ban các vấn đề quốc tế thuộc Duma quốc gia (Hạ viện Nga) Konstantin Kosachev đã tuyên bố rằng Nga phải nỗ lực hết sức để ngăn chặn một cuộc tấn công vào nước láng giềng Iran. Cuối tháng 11/2011, Nga tuyên bố ông Rogozin sẽ thăm cả Têhêran và Bắc Kinh trong năm 2012, cùng với một phái đoàn các quan chức Nga để thảo luận về các chiến lược tập thể chống lại các nguy cơ chung.

Ngày 12/1/2012, ông Patrushev đã nói với hãng thông tấn Interfax rằng ông quan ngại khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh lớn và ràng Ten Avíp đang thúc đẩy Mỹ tấn công Iran. Ồng Patrushev bác bỏ tuyên bố rằng Iran đang bí mật chế tạo vũ khí hạt nhân và nói rằng trong nhiều năm thế giới đã liên tục được nghe răng Iran sẽ có một quả bom nguyên tử vào tuần tới. Phát biểu của ông được nối tiếp bằng một cảnh báo của ông Rogozin.

Ngày 13/1/2012, ông Rogozin được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng Nga, tuyên bố rằng bất kỳ âm mưu can thiệp quân sự nào chống lại Iran sẽ là một nguy cơ đối với an ninh quốc gia của Nga. Nói cách khác, một cuộc tấn công Têhêran sẽ là một cuộc tấn công vào Mátxcơva. Năm 2007, Thủ tướng Vladimir Putin đã đề cập điều tương tự khi ông ở Têhêran dự một hội nghị thượng đỉnh Biển Caxpi, khiến Tổng thống Mỹ hồi đó là George W. Bush con cảnh báo rằng Chiến tranh thế giới thứ 3 có thể nổ ra vì Iran. Phát biểu của ông Rogozin chỉ là một tuyên bố quan điểm của Nga lâu nay: nếu Iran sụp đổ, Nga sẽ gặp nguy hiểm.

Iran là một mục tiêu của Mỹ không chỉ vì trữ lượng năng lượng và các nguồn tài nguyên dồi dào của họ, mà do những xem xét địa chiến lược, muốn biến Iran thành một bàn đạp chiến lược chống lại Nga và Trung Quốc Những con đường dẫn tới Mátxcơva và Bắc Kinh phải đi qua Têhêran cũng giống con đường tới Têhêran phải đi qua Đamát, Bátđa và Bâyrút Mỹ cũng không chỉ muốn kiểm soát dầu khí Iran cho tiêu dùng hoặc các lý do kinh tế. Oasinhtơn đang mong muốn thiết lập một vành đai xung quanh Trung Quốc bằng cách kiểm soát an ninh năng lượng của Trung Quốc và mong muốn xuất khẩu dầu mỏ của Iran sẽ được giao dịch bằng đồng USD để đảm bảo việc tiếp tục sử dụng đồng USD trong các giao dịch quốc tế. Hơn nữa, Iran đang soạn thảo một số hiệp định với một số đối tác thương mại, trong đó có Trung Quốc và Ấn Độ, mà những giao dịch tài chính sẽ không được thực hiện bằng đồng USD hay euro. Trong tháng 1/2012 cả Nga và Iran đã thay đồng USD bằng các đồng nội tệ của họ trong thương mại hai chiều. Đây là một cú đòn tài chính và kinh tế đối với Mỹ.

Xyri và những quan ngại an ninh quốc gia của Nga và Iran

Nga Trung Quốc và Iran đều đang kiên định ủng hộ Xyri. Vòng vây ngoại giao và kinh tế chống lại Xyri có liên quan đến những kế hoạch địa chính trị nhằm kiểm soát khu vực Âu-Á. Sự bất ổn tại Xyri có liên quan đến mục tiêu chống lại Iran và cuối cùng biến Iran thành một đối tác của Mỹ để chống lại Nga và Trung Quốc. Sự triển khai bị hủy bỏ hoặc trì hoãn hàng nghìn quân Mỹ tại Ixraen cho cuộc tập trận tên lửa “Thách thức khắc khổ 2012” có liên quan đến việc tăng sức ép chống lại Xyri. Trước đỏ, một số phương tiện truyền thông Nga đã đưa thông tin sai rằng cuộc tập trận “Thách thức khắc khổ 2012” được tổ chức tại Vịnh Pécxích. Điều này giúp nêu bật các mối quan hệ giữa Iran với Xyri và Libăng. Việc triện khai quân Mỹ chủ yếu nhằm vào Xyri như một phương tiện nhằm cô lập và chống lại Iran. Việc “trì hoãn” hoặc “hủy bỏ” các cuộc tập trận tên lửa Ixraen-Mỹ nhiều khả năng là để chuẩn bị chống lại các cuộc tấn công bằng tên lửa và rocket không chỉ từ Iran, mà còn từ Xyri, Libăng và các vùng lãnh thổ Palextin.

Ngoài những cảng hải quân tại Xyri, Nga không muốn thấy Xyri đựợc sử dụng để thay đổi tuyến hành lang năng lượng tại khu vực Lòng chảo Caxpi và Lòng chảo Địa Trung Hải. Nếu Xyri bị sụp đổ, những tuyến đường này có thể bị tái đồng bộ hóa để phản ánh một thực tế địa chính trị mới. Nếu Iran sụp đổ, năng lượng từ Vịnh Pécxích cũng có thể được đổi tuyến sang Địa Trung Hải thông qua cả Libăng và Xyri./.

CUỘC CHIẾN CỦA NATO Ở LIBI LÀ NHẰM CHỐNG TRUNG QUỐC

Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 05/10/2011

TTXN (Angiê 28/09)

Quyết định của Mỹ cho NATO không kích Libi không có gì liên quan đến cái mà Chính phủ Mỹ gọi là “sứ mệnh bảo vệ dân thường” mà trên thực tế, chiến dịch đó là một phần của kế hoạch rộng lớn hơn của NATO và Lầu Năm Góc nhằm kiểm soát tử huyệt của Trung Quốc: đó là sự lệ thuộc mang tính chiến lược vào lượng dầu mỏ và khí đốt phải nhập khẩu ngày càng lớn. Đó là nhận xét của chuyên gia William Engdahl trên tạp chí “Mondialisation”. Dưới đây là trích lược bài viết “AFRICOM là mối đe doạ đối với an ninh năng lượng quốc gia của Trung Quốc”.

Ngày nay, Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu mỏ nhiều thứ hai thế giới, sau Mỹ, và chiếc hồ ngăn cách đang được nhanh chóng lấp đầy. Vị trí địa lý của Bắc Phi và phương thức tổ chức của Bộ chỉ huy châu Phi của Mỹ (AFRICOM) cho thấy chiến lược của Mỹ là kiểm soát mọi con đường tiếp cận của Trung Quốc tới các nguồn cung chiến lược nhất ở châu Phi và Trung Đông về dầu mỏ và nguyên liệu.

Libi giáp Địa Trung Hải về phía Bắc và trực tiếp với Italia có ENI là công ty dầu mỏ nước ngoài lớn nhất hoạt động ở Libi từ nhiều năm nay, Tuynidi và Angiêri về phía Tây, Sát về phía Nam và Ai Cập cùng Xuđăng về phía Đông. Vị thế địa chính trị đó nói lên tầm quan trọng chiến lược về lâu dài của Libi đối với AFRICOM và Lầu Năm Góc liên quan đến khả năng kiểm soát châu Phi và nguồn tài nguyên của nước này.

Libi dưới thời ông Gaddafi đã kiểm soát được về mặt Nhà nước trữ lượng dầu mỏ dồi dào chất lượng cao. Theo dữ liệu từ năm 2006, nước này có trữ lượng lớn nhất châu Phi, nhiều hơn của Nigiêria khoảng 35%. Các thoả thuận khai thác được ký với các công ty dầu mỏ Nhà nước của Trung Quốc và Nga cũng như một số công ty khác trong những năm gần đây.

Từ nhiều năm nay, Mỹ đã dần dần tạo ra nhận thức rằng Trung Quốc, nước cách đây chưa đến 10 năm còn là người “bạn rất thân của nước Mỹ”, đang trở thành mối đe doạ lớn nhất đối với hoà bình thế giới vì nước này phát triển kinh tế quá mạnh. Việc một số công ty năng lượng và nhập khẩu nguyên liệu của Trung Quốc hoạt động mạnh ở châu Phi trở thành mối lo ngại lớn đối với Mỹ. Nhu cầu năng lượng cho tương lai trở nên quá rõ ràng từ nhiều năm nay buộc Trung Quốc phải bắt đầu một cuộc chiến ngoại giao kinh tế thực sự và chế áp ở châu Phi. Chiến lược này phát triển mạnh từ năm 2006 khi Trung Quốc trải thảm đỏ đón nguyên thủ hơn 40 nước châu Phi và thảo luận về việc mở rộng mối quan hệ thương mại với các nước này. Không có gì đáng ngạc nhiên đối với Trung Quốc là phải bảo đảm an ninh nguồn dầu mỏ trong tương lai để công nghiệp hoá đất nước. Vì vậy, Trung Quốc hướng về các nước không được các cường quốc thực dân châu Âu cũ – như Pháp, Anh hay Bồ Đào Nha – quan tâm.

Sát là một ví dụ điển hình. Đây là một trong những nước nghèo và bị cô lập nhất ở châu Phi. Trung Quốc ve vãn và chinh phục nước này bằng cách thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2006. Tháng 10/2007, Công ty dầu khí Nhà nước khổng lồ (CNPC) của Trung Quốc ký hợp đồng xây dựng một nhà máy lọc dầu liên doanh với Chính phủ Sát. Hai năm sau, hai nước bắt đầu xây dựng đường ống dẫn dầu để đưa dầu khai thác được từ mỏ do Trung Quốc kiểm soát ở miền Nam về nhà máy lọc dầu cách đó 300 km. Các tổ chức phi chính phủ được các nước phương Tây ủng hộ lúc đó bắt đầu lên tiếng về tác động môi trường do đường ống dẫn dầu của Trung Quốc gây ra. Song các tổ chức này lại im lặng một cách lạ lùng khi công ty Chevron phát hiện ra dầu ở Sát vào năm 2003. Mỏ dầu của Sát và Trung Quốc nằm gần một mỏ lớn khác cũng của Trung Quốc nằm ở Darfur của Xuđăng, ngay cạnh Sát.

Xuđăng là một nguồn cung cấp dầu quan trọng ngày càng nhiều cho Trung Quốc kể từ khi hợp tác được thiết lập giữa hai nước vào đầu những năm 1990. Từ năm 1998, CNPC xây dựng một đường ống dẫn dầu dài 1.500km từ mỏ ở Nam Xuđăng đến Port Sudan nằm bên bờ biển Đỏ và một nhà máy lọc dầu ở gần Khartum. Đầu năm 2011, dầu mỏ của Xuđăng được khai thác từ vùng có xung đột ở miền Nam, đáp ứng khoảng 10% lượng dầu mỏ mà Trung Quốc nhập khẩu, với hơn 60% sản lượng hàng ngày của Xuđăng (490.000 thùng/ngày). Xuđăng trở thành một điểm trọng yếu trong an ninh năng lượng quốc gia của Trung Quốc.

Phần dưới lòng đất chạy từ Darfur qua Sát đến Camơrun được đánh giá là một vùng dầu mỏ lớn đến mức có thể biến vùng này thành một Arập Xếut thứ hai. Kiểm soát được Nam Xuđăng và Sát cũng như Camơrun là việc có tính sống còn đối với chiến lược của Lầu Năm Góc nhằm triệt hạ về phương diện chiến lược nguồn cung ứng dầu mỏ trong tương lai của Trung Quốc. Theo lôgích đó, nếu chế độ hùng mạnh của ông Gaddafi còn tồn tại ở Tripôli, việc kiểm soát vùng này sẽ trở thành vấn đề lớn. Việc tách Nam Xuđăng khỏi Xuđăng gần như đồng thời với việc lật đổ chế độ ông Gaddafi là một ưu tiên chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu với kế hoạch thống trị toàn bộ của Lầu Năm Góc.

Lực lượng chính đứng đằng sau chiến dịch tấn công Libi hay sự thay đổi chế độ kín đáo hơn ở Tuynidi, Ai Cập và cuộc trưng cầu dân ý về Nam Xuđăng biến vùng này thành một nước độc lập, là AFRICOM. Đây là Bộ chỉ huy đặc biệt của quân đội Mỹ được Chính quyền Bush thành lập năm 2008 để ngăn chặn có hiệu quả ảnh hưởng của Trung Quốc đối với nguồn dự trữ dầu mỏ và nguyên liệu ở châu Phi.

Cuối năm 2007, Peter Pham, cố vấn các Bộ Ngoại giao và Quốc phòng Mỹ, giải thích công khai rằng trong số các mục đích thiết thân nhất của AFRICOM có việc bảo vệ đường tiếp cận dầu mỏ và nguồn tài nguyên chiến lược rất phong phú ở châu Phi, một nhiệm vụ bao gồm bảo đảm giữ được nguồn tài nguyên thiên nhiên đó, đồng thời không cho một bên thứ ba nào như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản hay Nga có được thế độc quyền hay ưu tiên khai thác.

Tháng 7/2011, Nam Xuđăng tuyên bố độc lập và mang theo phần lớn nguồn dầu mỏ khiến Trung Quốc không vui. Tổng thống Obama công khai ủng hộ miền Nam Xuđăng li khai. Đây là một kế hoạch được Mỹ chỉ huy và tài trợ từ khi Chính quyền Bush quyết định đưa kế hoạch đó vào các vấn đề ưu tiên vào năm 2004. Giờ đây, Xuđăng đột nhiên mất thu nhập từ dầu mỏ. Miền Nam ly khai với ¾ sản lượng 490.000 thùng/ngày làm trầm trọng thêm các vấn đề kinh tế của Xuđăng vì nước này mất đi khoảng 37% thu nhập quốc dân. Nam Xuđăng hiện đang được Mỹ khích lệ xây dựng một đường ống dẫn dầu mới độc lập với đường ống của Xuđăng và chạy qua Kênia, một vùng chịu sự ảnh hưởng rất mạnh của Mỹ ở châu Phi.

Mục đích thay đổi chế độ Libi được Mỹ ủng hộ cũng như toàn bộ kế hoạch đối với Trung Đông núp bóng “Mùa Xuân Arập”, là làm sao trong thời gian tới kiểm soát được các mỏ dầu quan trọng nhất hiện nay và chính sách sắp tới của một số nước, đặc biệt là Trung Quốc. Đối với kế hoạch tương lai liên quan đến an ninh năng lượng quốc gia của Trung Quốc, câu trả lời là tìm kiếm nguồn năng lượng ngay tại nước mình. Phương pháp mới để thăm dò và đánh giá dầu mỏ có thể sẽ cho phép Trung Quốc thoát ra khỏi cái bẫy dầu mỏ đã được giăng ra đối với nước này./.